Phân Tích Nhân Vật Anh Sáu Trong Chiếc Lược Ngà

Qua Phân tích nhân vật ông Sáu trong truyện ngắn Chiếc lược ngà của nhà văn Nguyễn Quang Sáng, người đọc sẽ cảm nhận được tình phụ tử cao cả và thiêng liêng, cũng như những vấn đề về hiện thực chiến tranh đã cướp đi hạnh phúc gia đình của biết bao người. Cùng tham khảo Dàn ý và những bài văn mẫu hay nhất được Top lời giải biên soạn và tổng hợp sau đây để có tài liệu bổ ích cho quá trình học bộ môn văn, chúng ta cùng bắt đầu nhé.

Bạn đang xem: Phân tích nhân vật anh sáu trong chiếc lược ngà

Tóm lược về tác giả và tác phẩm trước khi phân tích nhân vật ông Sáu

1. Tìm hiểu về nhà văn Nguyễn Quang Sáng

Nhà văn Nguyễn Quang Sáng sinh năm 1932, còn có bút danh khác là Nguyễn Sáng. Quê ông ở chợ Mới, tỉnh An Giang.

Ông sớm tham gia bộ đội, sau năm 1954 tập kết ra Bắc và giai đoạn này mới bắt đầu những trang viết của mình.

Những năm kháng chiến chống Mỹ xâm lược, Nguyễn Quang Sáng sống và hoạt động tại chiến trường Nam Bộ. Chính vì thế những tác phẩm của ông mang đậm sắc màu của Nam Bộ.

Những trang văn của tác giả mang đậm sắc màu bi tráng, những tình huống kịch tính và hấp dẫn, đồng thời cũng mang chất thơ rất riêng. Điều này đã tạo nên vẻ đẹp và cốt cách cho những trang viết của Nguyễn Quang Sáng.

Nhà văn sáng tác trên nhiều thể loại, đặc biệt hơn cả chính là truyện ngắn với một số tập truyện đặc sắc và nổi bật như: “Người quê hương”, “Con chim vàng”, “Chiếc lược ngà”, “Người con đi xa”, “Bông cẩm thạch”. Tiểu thuyết: “Mùa gió chướng”, “Đất lửa”, “Dòng sông thơ ấu”. Bên cạnh đó, “Một thời để nhớ, một thời để yêu” là một trong số những kịch bản phim ghi dấu ấn hơn cả.

2. Giới thiệu truyện ngắn Chiếc lược ngà

Chiếc lược ngà là truyện ngắn được nhà văn sáng tác vào tháng 9 năm 1966 ở chiến trường Nam Bộ trong những ngày cuộc kháng chiến chống Mỹ diễn ra ác liệt.

Nội dung tác phẩm: Truyện ngắn Chiếc lược ngà kể về một cán bộ nằm vùng ở miền Đông – ông Sáu luôn tha thiết nhớ thương vợ con. Nỗi nhớ ấy khiến ông dùng ngà voi làm thành chiếc lược ngà cho đứa con gái bé bỏng của mình.

Ông Sáu là một trong những nhân vật chính của tác phẩm. Khi phân tích nhân vật ông Sáu, ta sẽ thấy những phẩm chất và cốt cách cao đẹp của người chiến sĩ, người cha trong cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược.

Dàn ý Phân tích nhân vật ông Sáu trong Chiếc lược ngà


Mở bài:

- Giới thiệu tác phẩm, nhân vật: “Chiếc lược ngà” là truyện ngắn xuất sắc của Nguyễn Quang Sáng viết về tình cha con và những năm tháng chiến tranh ác liệt. Ông Sáu là một trong những nhân vật được nhà văn gửi gắm vào đó rất nhiều tâm tư, tình cảm của mình.

Thân bài:

– Ông Sáu là một người cha yêu thương con vô bờ bến.

– Ông anh dũng tham gia hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của dân tộc.

– Bảy năm ròng rã ngoài chiến trường đã dấy lên trong ông khao khát được gặp lại vợ con, được nghe con gọi một tiếng “ba”.

– Bé Thu – con gái bé bỏng của ông lại tỏ ra xa lánh, ngờ vực ông, nó nhất quyết không chịu gọi một tiếng “ba”.

– Trở về chiến trường, nhớ lại lời hứa với bé Thu, ông Sáu đã ngày ngày làm tặng con gái một chiếc lược ngà xinh xắn.

– Ông Sáu cũng chính là nhân vật đại diện cho biết bao thế hệ cha anh thời đó. Họ vì tình yêu quê hương đất nước mà sẵn sàng lên đường ra đi bảo vệ Tổ quốc

– Câu chuyện còn là bản cáo trạng đanh thép tố cáo tội ác mà chiến tranh đã gây ra cho biết bao người dân vô tội.

“Chiếc lược ngà” là truyện ngắn xuất sắc của Nguyễn Quang Sáng viết về tình cha con và những năm tháng chiến tranh ác liệt. Ông Sáu là một trong những nhân vật được nhà văn gửi gắm vào đó rất nhiều tâm tư, tình cảm của mình.

Kết bài:

Truyện “Chiếc lược ngà” và hình ảnh ông Sáu đã khơi gợi trong lòng ta bao ý nghĩa về sự hi sinh và hạnh phúc ở đời do các thế hệ cha anh đã đổ xương máu làm nên. Và bài học “uống nước nhớ nguồn” càng thêm thấm thía.

Phân tích nhân vật ông Sáu trong Chiếc lược ngà - Bài mẫu 1

*

“Chiếc lược ngà“ là truyện ngắn xuất sắc của nhà văn Nguyễn Quang Sáng viết về tình cha – con và nỗi đau trong chiến tranh do quân giặc gieo rắc thời chống Mĩ. Ông Sáu là một trong những nhân vật thể hiện sâu sắc chủ đề ấy.

Ông Sáu, một nông dân Nam Bộ giàu lòng yêu nước đã tham gia hai cuộc kháng chiến (đánh Pháp và đánh Mĩ), và đã anh dũng hi sinh. Ra đi đánh giặc từ năm 1946 mãi đến năm 1954, hòa bình lập lại, ông mới được về thăm quê một vài ngày. Ngày ra đi bộ đội, đứa con gái bé bỏng thân yêu của ông mới lên một tuổi, ngày về thì con đã 8, 9 tuổi.

Cái khao khát của một người lính sau những năm dài vào sinh ra từ được trở lại quê hương, được gặp lại vợ con, được nghe con cất tiếng gọi “ba” một tiếng cũng không trọn vẹn! Đó là bi kịch thời chiến tranh. Lúc chia tay vợ con lần thứ hai để bước vào một cuộc chiến đấu mới, ông mới được một khoảnh khắc hạnh phúc khi đứa con gái ngây thơ “nhận ra” ba mình và kêu thét lên: “Ba… ba!”. Ông ôm con “rút khăn lau nước mắt rồi hôn lên mái tóc con”.

Ông Sáu đã ra đi với nỗi nhớ thương vợ con không thể nào kể xiết. Bom đạn giặc đã làm thay đổi hình hài ông. Vết thẹo dài trên má phải – vết thương chiến tranh – đã làm cho đứa con gái thương yêu, bé bỏng không nhận ra bóng dáng người cha nữa! Ông đã ra đi, mang theo hình ảnh vợ con, với lời hứa mang về cho,con gái chiếc lược cùng với nỗi ân hận day dứt “sao mình lại đánh con” cứ giày vò ông mãi.

Nỗi đau, nỗi nhớ thương và mất mát… do quân giặc đem đến cho ông Sáu, cho bao người lính, cho bao bà mẹ, em thơ trên khắp mọi miền đất nước ta có bao giờ nguôi! Sự hi sinh của thế hệ đi trước để làm nên độc lập, thống nhất, dân chủ, hòa bình là vô giá.

Sau năm 1954, ông Sáu không tập kết ra Bắc, ông nhận nhiệm vụ mới ở lại miền Nam “nằm vùng“ hoạt động bí mật. Trong những ngày ở rừng, ở cứ bị giặc ruồng bố triền miên. Thiếu gạo phải ăn bắp. Gian khổ và nguy hiểm. Cái chết bủa vây cuộc chiến đấu thầm lặng. Ông Sáu vẫn không nguôi nhớ vợ con. Ông đã biến vỏ đạn 20 li của giặc Mỹ thành chiếc cưa nhỏ, đã tỉ mỉ, kiên nhẫn và khéo léo như một người thợ bạc chế tác khúc ngà voi thành một chiếc lược ngà xinh xắn có khắc dòng chữ: “Yêu nhớ tặng Thu con của ba".

Chiếc lược ngà với dòng chữ ấy mang theo bao tình cảm sâu nặng của người cha đối với đứa con bé bỏng. Tình thương con của ông Sáu thật vô cùng tha thiết. Điều đó cho thấy, ông Sáu cũng như hàng triệu chiến sĩ, đồng bào ta hi sinh chiến đấu vì đất nước và dân tộc, vì hạnh phúc gia đình, vì tình vợ chồng, tình cha con.

Chiếc lược ngà như một vật kí thác thiêng liêng của người lính về tình phụ – tử sâu nặng mà bom đạn quân thù không thể nào tàn phá được. Chính vì thế, khi bị trúng đạn máy bay Mỹ bắn vào ngực, lúc hấp hối, ông “đưa tay vào túi, móc cái lược đưa cho bạn, nhìn bạn hồi lâu rồi tắt thở… ông Sáu đã hi sinh trong những ngày đen tối vì gian khổ. Ngôi mộ ông là “ngôi mộ bằng giữa rừng sâu”. Nhưng chỉ có “tình cha con là không thể chết được!”.

Hình ảnh ông Sáu, hình ảnh người cha trong truyện “Chiếc lược ngà“ sâu nặng về tình cha – con. Chiếc lược ngà với dòng chữ mãi mãi là kỉ vật, là nhân chứng về nỗi đau, về bi kịch đầy máu và nước mắt đã để lại nhiều ám ảnh bi thương trong lòng ta. Ông Sáu là người lính của một thế hệ anh hùng đi trước mở đường đã nếm trải nhiều thử thách, gian khổ và hi sinh.

Truyện “Chiếc lược ngà” và hình ảnh ông Sáu đã khơi gợi trong lòng ta bao ý nghĩa về sự hi sinh và hạnh phúc ở đời do các thế hệ cha anh đã đổ xương máu làm nên. Và bài học “uống nước nhớ nguồn” càng thêm thấm thía.

Phân tích nhân vật ông Sáu trong Chiếc lược ngà - Bài mẫu 2

Ông cha ta vẫn thường có câu:

Công cha như núi ngất trời

Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển đông

Quả thực công ơn sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ là trời biển, cả đời này những người con cũng không thể báo đáp hết. Trong bất kì thời điểm nào, tình cảm phụ tử cũng thật thiêng liêng và đáng trân trọng. Và đặc biệt là trong hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt, tình cảm ấy như một viên ngọc quý, sáng ngời. Và tất cả thứ tình cảm thiêng liêng ấy, đã được Nguyễn Quang Sáng dồn tụ trong nhân vật ông Sáu với tác phẩm Chiếc lược ngà.

Trong thời đại kháng chiến vĩ đại, ông Sáu cũng như bao thanh niên khác, theo tiếng gọi tổ quốc lên đường nhập ngũ. Lập gia đình không được bao lâu, ông Sáu đã lên đường, còn chưa kịp nhìn đứa con gái yêu quý của mình. Những ngày ở chiến khu lòng ông lúc nào cũng đau đáu nhớ về gia đình và bé Thu. Ba ngày nghỉ phép như một phép màu, giúp ông thỏa nỗi nhớ quê hương, đặc biệt là được gặp đứa con thân thương của mình.

Lòng ông háo hức hồi hộp, trên chiếc xuồng mắt ông dõi về hướng nhà mình, và khi xuồng chưa cập bến ông đã vội nhảy lên bờ. Lòng ông hồ hởi, hạnh phúc, ông đã mong chờ giây phút gặp con này biết bao lâu rồi. Tiếng gọi con vừa nồng nàn, vừa ấm áp, chỉ hai tiếng “Thu! Con!” mà chất chứa biết bao tình yêu thương ông dành cho bé Thu.

Nhưng trái ngược với dòng tình cảm nồng cháy của ông, bé Thu lạnh nhạt, sợ hãi quay đầu bỏ chạy. Bé Thu không nhận ra anh, nó như một nhát dao cứa vào trái tim anh Sáu, anh lắp bắp gọi con, vết thẹo ở má đỏ ửng lên, con bé vụt bỏ chạy, anh đau đớn khôn cùng, “hai tay buông xuống như bị gãy”. Trông anh vô cùng đáng thương. Có lẽ anh Sáu cũng hiểu phần nào phản ứng của bé Thu với mình, nhưng với thân phận một người cha làm sao anh có thể không đau đớn, xót xa.

Ba ngày nghỉ phép ở nhà, là cơ hội hiếm có để anh đi thăm bà con, hỏi han họ hàng, nhưng anh dành riêng ba ngày đó cho đứa con yêu của mình. Anh quanh quẩn bên nó với chỉ một mong muốn duy nhất, bé Thu nhận ra cha và gọi anh là ba. Cái điều mà những tưởng người ta chẳng cần ước, nhưng anh dành cả tâm sức, thời gian mà bé Thu vẫn không hề lay chuyển.

Đặc biệt trong bữa cơm, bé Thu càng tỏ ra ương ngạnh, bướng bỉnh hơn, đỉnh điểm là khi anh gắp cái trứng cá vào bát nó, Thu đã hất miếng trứng đi. Vừa giận, vừa đau đớn, anh Sáu không thể kiềm chế bản thân mà đã vung tay đánh bé Thu. Không nói ra nhưng chúng ta cũng có thể hiểu rằng, đằng sau phút giây nóng giận ấy là trái tim tràn đầy tình yêu thương, là khao khát cháy bỏng nhận được một cử chỉ, một lời yêu thương từ đứa con.

Mọi sự cố gắng của ông Sáu đã được đền đáp. Trong giờ khắc cuối cùng của cuộc chia tay, bé Thu đã nhận ra anh. Niềm hạnh phúc, sự sung sướng, cảm động đã kết đọng thành giọt nước mắt đầy yêu thương. Dù thời gian của hai cha con vô cùng ngắn ngủi, nhưng anh cũng đã cảm nhận được hết tình yêu thương con dành cho mình. Tình yêu thương đó cũng là động lực để anh chắc tay súng, bảo vệ quê hương và trở về bên con.

Những ngày ở chiến khu tình yêu thương của anh dành cho bé Thu được bộc lộ mạnh mẽ và sâu sắc nhất. Anh luôn ân hận, dày vò bản thân vì đã lỡ đánh con. Nhớ những lời bé Thu dặn anh đã tìm cho được chiếc ngà. Anh thận trọng, tỉ mỉ, cố công như một người thợ bạc để cưa từng chiếc răng lược rồi gò lưng tẩn mẩn khắc từng nét chữ "Yêu nhớ tặng Thu, con của ba". Anh làm chiếc lược bằng tất cả tình yêu thương dành cho con.

Nhưng anh Sáu chưa kịp trao cho con chiếc lược ngà đã hi sinh trong một trận càn lớn của giặc. Nhưng hình như chỉ có tình cha con là không thể chết được, dù không đủ sức để trăng trối lại bất cứ điều gì, nhưng ông Sáu đã thu hết chút lực tàn để lấy cây lược đưa cho người đồng đội của mình trao cho bé Thu. Dù không một lời nói ra, nhưng nó vô cùng thiêng liêng, bởi đây là ước nguyện cuối cùng, ước nguyện của tình phụ tử cao cả, thiêng liêng, sâu sắc.

Với việc lựa chọn ngôi kể phù hợp, bác Ba người thân thiết gần gũi bên cạnh ông Sáu đã giúp cho câu chuyện trở nên chân thực, đáng tin cậy. Câu chuyện về tình phụ tử thiêng liêng trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt càng cho thấy rõ hơn những nỗi đau mà chiến tranh gây ra đối với con người. Nhưng cao cả hơn, đó chính là tình cảm phụ tử thiêng liêng, bất diệt.

Phân tích nhân vật ông Sáu trong Chiếc lược ngà - Bài mẫu 3

“Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng là một truyện ngắn viết về tình phụ tử sâu nặng của cha con ông Sáu sau chiến tranh. Đây là một truyện ngắn giản dị nhưng chứa đầy sức bất ngờ. Đoạn trích trong SGK Ngữ Văn 9 đã cho thấy một khoảnh khắc nhỏ mà trong đó có sự cao cả thiêng liêng về tình phụ tử.

Tình cảm của anh Sáu dành cho bé Thu trở nên mãnh liệt hơn, cao cả, thiêng liêng và cảm động hơn bao giờ hết là việc anh tự tay làm chiếc lược ngà cho con gái. “Ba về! Ba mua cho con một cái lược nghe ba!”, đó là mong ước đơn sơ của đứa con gái bé bỏng trong giây phút cha con từ biệt. Nhưng đối với người cha ấy, đó là mong ước đầu tiên và cũng là duy nhất cho nên nó cứ thôi thúc trong lòng.

Kiếm cho con cây lược trở thành bổn phận của người cha, thành tiếng gọi cầu khẩn của tình phụ tử trong lòng. Anh bật dậy như bỗng loé lên một sáng kiến lớn: làm lược cho con bằng ngà voi. Có lẽ không đơn thuần vì ở rừng rú chiến khu, anh không thể mua được cây lược nên làm lược từ ngà voi là một cách khắc phục khó khăn. Mà cao hơn thế, sâu hơn thế, ngà voi là thứ quí hiếm – chiếc lược cho con của anh phải được làm bằng thứ quý giá ấy.

Và anh không muốn mua, mà muốn tự tay mình làm ra. Anh sẽ đặt vào trong đấy tất cả tình cha con của mình. Kiếm được ngà voi, mặt anh “hớn hở như một đứa trẻ được quà”. Vậy đấy, khi người ta hóa thành con trẻ lại chính là lúc người ta đang hiện lên cái tư cách người cha cao quý của mình. Rồi anh “ngồi cưa từng chiếc răng lược, thận trọng tỉ mỉ và khổ công như người thợ bạc”, “gò lưng tẩn mẩn khắc từng chữ: “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”.

Anh thường xuyên “lấy cây lược ra ngắm nghía rồi mài lên tóc cho cây lược thêm bóng thêm mượt”. Lòng yêu con đã biến người chiến sĩ trở thành một nghệ nhân – nghệ nhân chỉ sáng tạo ra một tác phẩm duy nhất trong đời cho nên chiếc lược ngà đã kết tinh trong nó tình phụ tử mộc mạc mà đằm thắm sâu xa, đơn sơ mà kỳ diệu làm sao!

Nhưng ngày ấy đã vĩnh viễn không bao giờ đến nữa. Anh không kịp đưa chiếc lược ngà đến tận tay cho con thì người cha ấy đã hi sinh trong một trận đánh lớn của giặc. Nhưng “hình như chỉ có tình cha con là không thể chết được”. Không còn đủ sức trăng trối điều gì, tất cả tàn lực cuối cùng chỉ còn cho anh làm được một việc “đưa tay vào túi, móc cây lược” đưa cho người bạn chiến đấu thân thiết và cứ nhìn bạn hồi lâu.

Nhưng đó là điều trăng trối không lời, nó rõ ràng là thiêng liêng hơn cả một lời di chúc, bởi đó là sự uỷ thác, là ước nguyện cuối cùng của người bạn thân, ước nguyện của tình phụ tử! Bắt đầu từ giây phút ấy, chiếc lược ngà của tình phụ tử đã biến người đồng đội thành một người cha – người cha thứ hai của cô bé Thu.

Các bạn ạ! Trong những ngày đen tối ấy, người sống phải sống bí mật cũng đã đành một lẽ còn người chết cũng phải chết bí mật nữa. Mộ của anh không thể đắp cao lên được, vì tìm thấy mồ mả bọn chúng sẽ đào lên và tìm ra dấu vết, cho nên ngôi mộ của anh là ngôi mộ bằng, bằng phẳng như mặt rừng vậy.

Bác Ba bạn của anh đã lấy dao khắc vào một gốc cây rừng cạnh chỗ anh nằm làm dấu cho dễ nhớ. Sống như thế và chết như thế hỏi vậy làm sao mà chịu được. Chúng ta buộc phải cầm súng. Và bé Thu không còn là cô bé ngày xưa nữa mà là một cô giao liên thông minh, quả cảm. Thu đi theo con đường mà ba cô đã chọn. Thu đi để trả thù cho quê hương, cho cha mình đã bị bọn giặc giết hại.

Tuy anh Sáu đã hi sinh nhưng câu chuyện vè hai cha con anh sẽ còn sống mãi. Hình ảnh chiếc lược ngà với dòng chữ sẽ mãi là kỉ vật, là nhân chứng về nỗi đau, bi kịch của chiến tranh. Cảm ơn nhà văn Nguyễn Quang Sáng đã khắc hoạ rõ nét tâm hồn, tình cảm của anh Sáu và bé Thu. Truyện dẫn người đọc dõi theo số phận và lòng quả cảm, dõi theo tâm tình của cha con một người chiến sĩ diễn ra hàng chục năm trời đi qua hai cuộc chiến tranh.

Người còn, người mất nhưng kỉ vật, gạch nối giữa cái mất mát và sự tồn tại của chiếc lược ngà vẫn còn đây. Đây là minh chứng đối với chúng ta “cái mất mát lớn nhất mà thiên truyện ngắn đề cập đến là người đã khuất, là tổ ấm gia đình không còn tồn tại trọn vẹn trong thực tại. Đó là tội ác, là những đau thương, mất mát của chiến tranh xâm lược mà các thế hệ bạo tàn gây ra cho chúng ta.

Song cái được mà chúng ta nhìn thấy là không có sự bi luỵ xảy ra, sức mạnh của lòng căm thù đã biến cô bé Thu trở thành một người chiến sĩ thông minh, dũng cảm, đã gắn bó cuộc đời con người có ít nhiều mất mát xích lại gần nhau để cùng đứng lên viết tiếp bản ca chiến thắng.

Gấp sách lại, chia tay với ông Ba, câu chuyện về “Chiếc lược ngà” với lời nói cuối cùng của ông – giọng trầm ấm khoan thai – cứ âm vang mãi trong bạn đọc chúng ta, như sự âm vang của một truyện cổ tích. Truyện cổ tích hiện đại đó đã thành công trong việc tạo tình huống truyện, miêu tả tâm lý, tình cảm nhân vật và giọng kể nhẹ nhàng, thấm thía truyền cảm.

Ông Ba – người kể chuyện – hay chính là nhà văn Nguyễn Quang Sáng? Phải là người từng trải sống hết mình vì công cuộc kháng chiến của quê hương, gắn bó máu thịt với những con người quê hương giàu tình nghĩa, rất nhân hậu mà kiên cường, bất khuất, bất diệt, nhà văn mới nhập được vào các nhân vật, sáng tạo được nhiều hình tượng, chi tiết sinh động, bất ngờ, có được giọng văn dung dị và cảm động như vậy.

Đồng thời truyện đã làm sống lại quãng thời gian giữ nước để thông qua đó tác giả muốn người đọc phải suy nghĩ và thấm thía nỗi đau, sự mất mát mà chiến tranh mang đến. Tình cảm cha con sâu sắc của cha con ông Sáu đã vượt qua bom đạn của chiến tranh để ngày càng thiêng liêng, ngời sáng và gắn bó chặt chẽ với tình yêu quê hương, đất nước.

Qua cuộc đời nhân vật, từ cô bé Thu đến ông Sáu, ông Ba, Nguyễn Quang Sáng như muốn nói rằng trong cuộc kháng chiến gian khổ chống ngoại xâm vừa qua của dân tộc ta, tình nghĩa con người Việt Nam, nhất là tình cha con, đồng đội, sự gắn bó thế hệ già với thế hệ trẻ, người chết và người sống… mãi mãi bất diệt. Như chiếc lược ngà ba tặng lại không bao giờ có thể mất, tình cha con của bé Thu cũng sẽ mãi mãi bất diệt!

Phân tích nhân vật ông Sáu trong Chiếc lược ngà - Bài mẫu 4

* Phân tích nhân vật ông Sáu qua hoàn cảnh xuất thân

Khi phân tích nhân vật ông Sáu, ta thấy ông là một người nông dân Nam Bộ, đều tham gia cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Nhà văn Nguyễn Quang Sáng đã chỉ rõ ông Sáu ra đi đánh giặc vào năm 1946 và mãi đến năm 1954, ông mới được về thăm nhà một vài ngày.

Ngày ông Sáu ra chiến trường, đứa con gái bé bỏng mới chỉ một tuổi. Vì vậy, khi cô con gái lên 9 tuổi thì ông mới được gặp lại con. Sau năm 1954, ông Sáu nhận nhiệm vụ ở miền Nam hoạt động bí mật. Có thể thấy khi phân tích nhân vật ông Sáu, hoàn cảnh của ông chính là hoàn cảnh của biết bao người chiến sĩ trong chiến tranh. Sự chia lìa do chiến tranh đã khiến bao gia đình phải sống trong xa cách.

* Phân tích nhân vật ông Sáu là người có tình yêu quê hương đất nước

Ông Sáu là một người dân Nam Bộ có tình yêu hương đất nước sâu nặng. Minh chứng rõ nhất chính là việc ông Sáu đã lên đường chiến đấu qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, để rồi hy sinh anh dũng. Người nông dân chân chất ấy ra đi từ năm 1946 mà mãi đến khi hòa bình lập lại, ông mới về thăm quê một vài ngày vào năm 1954.

Quê hương đất nước là tiếng gọi cao cả thiêng liêng nhất trong trái tim. Khi Tổ quốc cần, ông không tiếc thân mình. Lên đường chiến đấu, đồng nghĩa với việc phải rời xa gia đình, xa đứa con bé bỏng khi đó mới lên một tuổi. Ngày ông trở về thăm nhà thì con đã 9 tuổi. Có thể thấy, khi phân tích nhân vật ông Sáu, điều đầu tiên ta cảm nhận được chính là tình yêu quê hương sâu sắc và mãnh liệt.

Những năm dài chiến đấu, vào sinh ra tử, mưa bom bão đạn đã trải qua khiến người chiến sĩ ấy khao khát trở về thăm gia đình biết nhường nào. Ông Sáu mong ước trở về, để được đoàn tụ với vợ con, để được nghe đứa con gái đáng yêu gọi một tiếng “ba”. Ấy vậy mà tiếng gọi ấy cũng không trọn vẹn. Đó chính là bi kịch của chiến tranh, những khoảng trống không thể bù đắp được…

Chỉ đến lần chia tay thứ hai trước khi bước vào cuộc chiến mới, ông Sáu mới cảm nhận được những hạnh phúc khi cô con gái cất tiếng gọi “ba…ba!”. Phân tích nhân vật ông Sáu, ta nhận ra khoảnh khắc ấy xúc động biết bao nhiêu khi ông Sáu rút khăn lau nước mắt rồi hôn lên tóc con. Vì tình yêu đất nước, vì Tổ quốc cần, ông Sáu lại lên đường. Chính bởi chiến tranh khiến gia đình xa cách, và cũng chính chiến tranh khiến ông Sáu mang vết sẹo dài trên má phải. Điều này đã khiến cô con gái không nhận ra người cha của mình.

Phân tích nhân vật ông Sáu, ta thấy khi ra đi ông mang theo nỗi nhớ thương vợ con khôn xiết, cùng với lời hứa mang về cho con gái chiếc lược. Hạnh phúc gia đình bị chia cắt, tình cha con phải chia xa…. Biết bao đánh đổi, biết bao mất mát đau thương do chiến tranh mang lại cho ông Sáu, hay cũng là với biết bao người lính, cho bao bà mẹ và em thơ. Những thế hệ trước đã hy sinh quá nhiều để có được độc lập, hạnh phúc và thống nhất như bây giờ.

Ông Sáu đã không tập kết ra Bắc mà tiếp tục nhận nhiệm vụ mới ở miền Nam từ sau năm 1954. Ông nhận hoạt động bí mật với những ngày tháng ở rừng. Cuộc sống chiến đấu gian khổ, bị giặc khủng bố liên miên, mưa bom bão đạn, thiếu gạo phải ăn bắp, ăn mì. Cuộc chiến đấu thầm lặng với cái chết bủa vây đã cho thấy tình yêu quê hương đất nước sâu đậm của lão nông miền Nam. Phân tích nhân vật ông Sáu, ta thấy ở lão nông này là tinh thần chiến đấu dũng cảm, luôn sát cánh cùng đồng đội chiến đấu để rồi hi sinh trong một trận càn lớn của quân Mĩ – Ngụy.

* Ông Sáu là người cha có tình yêu thương con tha thiết, tình phụ tử sâu nặng

Phân tích nhân vật ông Sáu, ngay từ những trang văn đầu câu chuyện, người đọc đã có thể cảm nhận được tình cha con sâu sắc và tha thiết của ông Sáu với cô con gái tên Thu. Một câu chuyện gợi lên trong lòng bạn đọc biết bao nghĩ suy về tình phụ nữ trong những năm tháng kháng chiến ác liệt. Một niềm thương xót xa và day dứt, một câu chuyện phụ tử đẹp nhưng buồn, có sức lay động sâu xa đến những nơi sâu kín nhất của trái tim.

Xem thêm: Top Phần Mềm Download Video Download Capture 6, Video Downloader

Đó là những sự hi sinh lặng lẽ của những người chiến sĩ. Đi theo tiếng gọi của Tổ quốc, họ không chỉ xông pha nơi mưa bom bão đạn, nơi cận kề hiểm nguy là cái chết, mà họ còn phải hy sinh những tình cảm gia đình gắn bó và tha thiết nhất.

Khi phân tích nhân vật ông Sáu, người lính đã qua khói lửa chiến tranh ấy mang một khuôn mặt lạnh, một ý chí thép kiên cường nhưng lại mang một trái tim ấm nóng của một người cha luôn thương nhớ đứa con gái bé bỏng của mình. Điều này thể hiện rất rõ qua chi tiết, chỉ mới nghĩ đến việc gặp bé Thu thôi, mà ông đã thấy cứ “nôn nao mãi”. Nhà văn Nguyễn Quang Sáng thật tinh tế khi miêu tả những hành động của ông Sáu “không thể chờ xuồng cập bến, anh nhún chân nhảy thót lên, xô chiếc xuồng tạt ra”. Những hành động ấy còn được thể hiện như “bước vội vàng với những bước chân dài, rồi dừng lại, kêu to : “Thu! Con”. Đó là những cảm xúc của một người cha đã sống trong nỗi thương nhớ vơi đầy về cô con gái nhỏ. Phân tích nhân vật ông Sáu, đây chính là nỗi lòng khát khao và mon mỏi của một cha yêu con vô bờ bến. Tình cảm sâu đậm bị dồn nén bao năm để rồi vỡ òa trong tiếng gọi con đầu tiên ấy.

Biểu hiện của sự xúc động tột độ còn thể hiện ở hình ảnh về “vết thẹo dài trên má phải đỏ ửng lên, giần giật…”. Sau bao ngày mòn mỏi nhớ mong để rồi tiếng xưng ba nghẹn ngào khiến giọng ông nghẹn lại “ba đây con”. Càng mong mỏi bao nhiêu thì ông Sáu lại càng đau đớn bội phần khi đứa con gái bé bỏng không đáp lại sự vồ vập mong chờ của ông “mặt nó tái đi, rồi vụt chạy”. Bao nhiêu sự hụt hẫng bóp nghẹn trái tim ông như cả bầu trời sụp đổ.

Phân tích nhân vật ông Sáu, người đọc nhận thấy rằng, tình cha con sâu đậm ấy khiến ông không nản lòng trước sự hờ hững của đứa con. Trong ba ngày về thăm gia đình ấy, ông đã dành hết tình cảm cho bé Thu với sự nhẹ nhàng, ân cần và chăm chút. Cô con gái cự tuyệt, bướng bỉnh bao nhiêu thì ông Sáu lại nhẫn nại và bền bỉ bấy nhiêu. Đó chính là sự kiên trì, là sự bao dung xuất phát từ tình phụ tử thiêng liêng và sâu đậm. Thế nhưng, khi tình cảm ấy đã quá lớn, bị dồn ép quá lâu, lại gặp phải sự cự tuyệt kiên quyết của con đã khiến ông Sáu “vung tay đánh mạnh vào mông con gái” rồi hét lên “sao mày cứng đầu quá vậy”. Sự tức giận và hành động ấy được xuất phát từ sự đau đớn bất lực. Chỉ có ba ngày thôi, thời gian bên con quá ngắn mà bé Thu chưa chịu thừa nhận người cha ấy. Hành động đánh con này cũng khiến ông Sáu bị dày vò tâm trí và khổ tâm suốt những năm tháng sau này khi phải xa con gái.

Chính chiến tranh đã khiến biết bao tình cảm thay đổi, cha con đã quá lâu không được đoàn tụ, biết bao gia đình xa cách để rồi. Hình ảnh về bé Thu như một ví dụ cụ thể và điển hình về những tình cảm xa cách trong chiến tranh bom đạn. Phân tích nhân vật ông Sáu, ta thấy diễn biến tâm lý của ông khá phức tạp, tất cả đều là tình yêu thương con mãnh liệt trong trái tim ấm nóng của một người cha.

Tình yêu thương con vô bờ bến ấy còn được minh chứng vào thời khắc cuối cùng khi ông Sáu ở nhà. Được thấy con, được nghe tiếng con gọi ba, trái tim người cha như vỡ òa trong hạnh phúc. Ông Sáu đã cố kìm nén cảm xúc trong giây phút chia tay ấy “cũng muốn ôm con, hôn con, nhưng cũng lại sợ nó giãy lên, lại bỏ chạy, nên anh chỉ đứng nhìn nó…” Với ông Sáu bây giờ, chỉ cần nhìn thấy con thôi đã là hạnh phúc quá lớn. Chính ánh nhìn con đã cho thấy bao nhiêu tình cảm dồn nén và ấp ủ “đôi mắt trìu mến lẫn buồn rầu”.

Phân tích nhân vật ông Sáu, ta thấy rằng tình phụ tử lớn lao ấy còn được thể hiện sâu sắc khi ông ở căn cứ. Lời hứa làm chiếc lược ngà cho con không lúc nào vơi trong ông. Để khi có được một mảnh ngà voi, ông hớt hải chạy về. Mặt ông Sáu hớn hở như đứa trẻ được quà. Với tình yêu và nỗi nhớ đứa con gái, ông Sáu từng ngày từng ngày ngồi cưa mảnh ngà voi thành một chiếc lược dài độ hơn tấc. Trên sống lưng của chiếc lược có khắc một hàng chữ nhỏ mà ông Sáu đã gò lưng và tẩn mẩn khắc từng nét “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”. Trong những ngày ở căn cứ, mỗi khi nhớ con, ông Sáu lại đưa chiếc lược lên ngắm nghía rồi lại mài lên tóc cho cây lược thêm bóng. Chiếc lược này đã trở thành kỉ vật thiêng liêng và vô giá. Nó là biểu tượng của tình cha con bất tử, đồng thời cũng làm xoa dịu đi những nỗi ân hận day dứt khi lỡ đánh con, và cũng chứa đựng biết bao tình cảm nhớ thương và yêu mến.

Thế nhưng, khi phân tích nhân vật ông Sáu, ta thấy nỗi đau lớn lao mà chiến tranh đã đem lại. Đó là sự hy sinh của người cha ấy. Ông Sáu đã ra đi vì bom đạn chiến tranh trong một trận càn của giặc khi chưa kịp trao tay bé Thu chiếc lược ngà. Giờ phút cuối cùng ấy, hình như chỉ có tình cha con là không thể chết được, ông Sáu đưa tay vào túi lấy cây lược và trao lại cho tôi. Đến đây, người đọc không khỏi nghẹn ngào rơi lệ…

Phân tích nhân vật ông Sáu, người đọc nhận thấy đây là một người nông dân Nam Bộ hiền lành và chất phác. Vì tình yêu đất nước mà lên đường chiến đấu, sẵn sàng xa gia đình, xa đứa con gái yêu dấu. Ông Sáu còn là một người cha có tình yêu thương con sâu đậm, đó là tình phụ tử thiêng liêng và bất tử. Phân tích nhân vật ông Sáu trong tác phẩm Chiếc lược ngà của nhà văn Nguyễn Quang Sáng không chỉ cho thấy tình cha con sâu nặng mà qua đó cũng nhấn mạnh hiện thực khốc liệt của chiến tranh, những hy sinh, những éo le, mất mát và đau thương mà không gì bù đắp được. Từ đó, câu chuyện cũng gợi lên những thắm thía xúc động trong lòng bạn đọc biết bao nghĩ suy. Nhà văn đã rất thành công trong việc xây dựng và miêu tả tâm lí nhân vật, cùng với sự hấp dẫn của cốt truyện khiến tác phẩm để lại nhiều dư âm.

Phân tích nhân vật ông Sáu trong Chiếc lược ngà - Bài mẫu 5

Văn học từ cổ chí kim luôn tồn tại một mạch nguồn xuyên suốt, đó là tình cảm thiêng liêng giữa cha mẹ và con cái. Đã có biết bao khúc ca ấm áp vang lên như sự tri ân của những người con dành cho cha mẹ. "Chiếc lược ngà" của Nguyễn Quang Sáng cũng là một bài ca đẹp về tình phụ tử thiêng liêng, sâu nặng, bao năm qua luôn là một tiếng ngân sâu lắng trong lòng độc giả Việt Nam.

"Chiếc lược ngà" là câu chuyện về tình cha con sâu nặng, tha thiết của ông Sáu và cô con gái tên Thu. Một câu chuyện đẹp nhưng buồn, có sức lay động sâu xa, gợi lên trong lòng độc giả bao thế hệ nỗi niềm xót xa, thương cảm, day dứt khôn nguôi về chiến tranh và sự tàn phá của nó. Những ám ảnh ấy như khắc sâu vào tâm khảm mỗi người, khiến ta thấm thía hơn sự hi sinh của những người chiến sĩ của một thời chiến tranh gian khổ và ta biết yêu kính hơn, trân trọng họ hơn.

Bằng lời văn dung dị, nhẹ nhàng, nhiều âm vang với những cung bậc cảm xúc khác nhau, nhà văn đã thể hiện thật sâu sắc và cảm động tình cảm cha con giữa ông Sáu và bé Thu. Phải chăng sức nặng của những ám ảnh đó chính là bởi tình phụ tử thiêng liêng, sâu nặng toát ra từ mỗi lời văn, va đập vào trái tim độc giả, lắng đọng và day dứt mãi không thôi?

Ngay từ đầu câu chuyện, người đọc đã có thể cảm nhận sâu sắc tình yêu con tha thiết của ông Sáu. Người lính đã trải qua khói lửa chiến tranh, gió sương núi rừng, có một khuôn mặt lạnh, một ý chí thép nhưng trái tim người cha trong ông thì vẫn ấm nóng. Vì vậy mà, mới chỉ nghĩ đến việc được gặp con thôi, ông đã thấy “nôn nao mãi“.

Hành động vội vàng: “không thể chờ xuồng cập lại bến, anh nhún chân nhảy thót lên, xô chiếc xuồng tạt ra”, “bước vội vàng với những bước chân dài, rồi dừng lại, kêu to: “Thu ! Con” đã khắc họa rõ nét nỗi lòng khao khát, mong mỏi của người cha. Tiếng gọi con lần đầu như vỡ oà trong tình yêu quá lớn bị dồn nén bao năm. Hình ảnh “vết thẹo dài trên má phải đỏ ửng lên, giần giật…” là biểu hiện của sự xúc động tột độ.

Tiếng xưng “ba” sau bao ngày nhớ mong, mòn mỏi, vừa muốn vỡ oà, vừa lại như bị dòng cảm xúc quá lớn kìm xuống, khiến nó nghẹn lại trong “giọng run run”: “Ba đây con”. Nhưng chính nỗi mong mỏi, niềm hạnh phúc, mong chờ quá lớn ấy lại khiến ông đau đớn bội phần khi đứa con gái không đáp lại sự vồ vập của ông, “mặt nó tái đi, rồi vụt chạy”. Cả bầu trời như sụp xuống trước mắt người cha. Niềm đau, sự hụt hẫng bóp nghẹt trái tim ông. Ông “đứng sững lại đó, nhìn theo con, nỗi đau đớn khiến mặt anh sầm lại trông thật đáng thương và hai tay buông xuống như bị gãy”.

Không nản lòng, trong ba ngày ở nhà, ông Sáu dành hết tình cảm cho bé Thu. Ông ân cần, nhẹ nhàng chăm chút con bé. Trước sự cự tuyệt, bướng bỉnh của cô con gái, người cha ấy vẫn hết sức bền bỉ, nhẫn nại. Đó là sự bao dung của một người làm cha, của nỗi niềm khao khát “mong được nghe một tiếng gọi ba của con gái”. Và rồi, khi tình cảm quá lớn lại gặp phải sự cự tuyệt kiên quyết của bé Thu, nó như bị thúc ép, khiến ông không giữ được bình tĩnh “vung tay đánh mạnh vào mông" con bé và hét lên: ‘‘Sao mày cứng đầu quá vậy ?”.

Ông Sáu đánh con vì tức giận, đau đớn và bất lực. Thời gian ông có thể ở bên con không còn nhiều, vậy mà con bé vẫn không chịu thừa nhận ông. Hành động đánh con của ông là một sự kìm nén của nỗi lòng mong mỏi quá lớn. Nhưng cũng chính điều đó đã giày vò tâm trí ông, trở thành mối khổ tâm suốt những năm tháng sau này khi phải xa con.

Vào thời khắc cuối cùng được ở nhà, được nhìn thấy con gái, trái tim của người cha đã được xoa dịu khi bé Thu nhận ra ba. Lúc chia tay, ông Sáu cố nén lòng, kìm giữ cảm xúc của mình. Ông “cũng muốn ôm con, hôn con, nhưng cũng lại sợ nó giãy lên, lại bỏ chạy, nên anh chỉ đứng nhìn nó“. Chỉ cần nhìn thấy sự hiện diện của con thôi, ông cũng cảm thấy được an ủi phần nào.

Và bao nhiêu tình yêu ông dồn cả vào ánh mắt nhìn con – “đôi mắt trìu mến lẫn buồn rầu“. Ánh mắt ấy vừa muốn bộc lộ hết tình yêu tha thiết với con, vừa thể hiện nỗi khao khát bị kìm nén, nỗi buồn của sự chia xa và cả nỗi đau của sự bị khước từ. Để rồi, tất cả như vỡ òa theo tiếng gọi “ba” bất ngờ của bé Thu: “Ba… a… a… ba !”.

Tiếng gọi ông Sáu khao khát, trông chờ, tưởng chừng mòn mỏi bao lâu đã vang lên, khiến tim ông như muốn vỡ ra vì hạnh phúc. Người đọc như cũng lạc nhịp tim trong giây phút âm thanh yêu thương ấy cất lên. Ông Sáu “không ghìm được xúc động”, “một tay ôm con, một tay rút khăn lau nước mắt”. Những dòng nước mắt tuôn trào từ trái tim yêu thương cháy bỏng của người cha.

Có thể nói, Nguyễn Quang Sáng đã thật tài tình khi xây dựng nhân vật ông Sáu. Toàn bộ câu chuyện về người chiến sĩ ấy đều gắn với sự bộc lộ tình yêu con. Từ những hành động đến những chi tiết miêu tả ngoại hình, tâm trạng. Vì thế mà trong tâm trí người đọc, hình ảnh ông Sáu hiện lên với tình yêu con thiết tha, sâu nặng. Những ngày ở chiến trường, tình yêu con được ông Sáu dồn vào việc làm cây lược tặng con.

Dõi theo quá trình làm chiếc lược của ông Sáu, từ vẻ mặt “hớn hở” khi nhặt được khúc ngà đến khi tỉ mỉ ngồi giũa cây lược “như người thợ bạc”, ta có thể cảm nhận được tình yêu sâu nặng của ông. Dòng chữ khắc trên cây lược “yêu nhớ tặng Thu con của ba‘’ thể hiện trọn vẹn nỗi lòng người cha đối với cô con gái ngàn lần dấu yêu nơi quê nhà. Chiếc lược ngà ấy đã “gỡ rối đi phần nào tâm trạng” của ông.

Lời hứa của ông đối với con đã thành hiện thực. Chiếc lược là chỗ dựa tinh thần mỗi khi ông nhớ con. Đó là kỉ vật cuối cùng lưu giữ tình yêu sâu nặng của ông Sáu dành cho con, ông khao khát được tận tay trao cho con gái. Sự khốc liệt của cuộc chiến tranh đã khiến nguyện ước của ông không thành nhưng cây lược sẽ là minh chứng cho tình yêu con của ông.

Tình yêu của ông Sáu dành cho con thật sâu sắc. Bao cung bậc cảm xúc của ông được người đọc thấu cảm, sẻ chia. Trong chiến tranh, có những việc tưởng chừng rất bình dị như nghe một tiếng con gọi “ba”, tự tay tặng cho con một món quà nhỏ, được ôm con trong vòng tay,… cũng trở thành mơ ước của rất nhiều người và cũng rất nhiều người trong số họ giống như ông Sáu đã không thực hiện được ước nguyện đó. Nhưng cũng chính trong sự khốc liệt của chiến tranh, tình cảm tha thiết, trái tim ấm nóng của người cha lại được bộc lộ rõ nhất. Nó lắng đọng ngân vang mãi trong lòng ta.

Sức ám ảnh của truyện ngắn "Chiếc lược ngà" được tạo nên bởi nội dung câu chuyện. Ngòi bút của Nguyễn Quang Sáng thật tinh tế trong việc thể hiện mọi cung bậc của cảm xúc, xây dựng tình huống truyện, sử dụng ngôn từ,… Tất cả những điều đó đã góp phần làm nên sức sống của câu chuyện.

Tác phẩm khép lại nhưng tình phụ tử ấm áp, thiêng liêng, cao cả sẽ mãi là ngọn lửa lấp lánh sáng, sưởi ấm trái tim độc giả.

Phân tích nhân vật ông Sáu trong Chiếc lược ngà - Bài mẫu 6

Có thể nói, ông Sáu là một người cha yêu thương con vô bờ bến. Ông anh dũng tham gia hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của dân tộc. Ngày tạm biệt quê hương bước chân vào chiến trường đứa con gái bé bỏng của ông mới lên một tuổi.

Bảy năm ròng rã ngoài chiến trường đã dấy lên trong ông khao khát được gặp lại vợ con, được nghe con gọi một tiếng “ba”. “Xuồng vào bến, thấy một đứa bé độ tám tuổi, tóc cắt ngang vai, mặc quần đen, áo bông đỏ đang chơi nhà chòi dưới bóng cây xoài trước sân nhà, đoán biết là con, không thể chờ xuồng cập lại bến, anh nhún chân nhảy thót lên, xô chiếc xuồng tạt ra, khiến tôi bị chới với. Anh bước vội vàng với những bước dài, rồi dừng lại kêu to: Thu! Con!”.

Thế nhưng trước tình cảm đó bé Thu – con gái bé bỏng của ông lại tỏ ra xa lánh, ngờ vực ông, nó nhất quyết không chịu gọi một tiếng “ba”. Dù vậy, trong suốt ba ngày về phép ông Sáu luôn tìm cách vỗ về, gần gũi con. Ông quan tâm, yêu chiều nó hết mực. Trong bữa cơm, ông gắp cho nó một miếng trứng cá vàng ươm nhưng nó lại bất ngờ hất văng miếng trứng khỏi bát.

Vì quá tức giận ông đã ra tay đánh nó nhưng chính hành động đó lại khiến ông day dứt cho đến mãi về sau.

Hết ba ngày phép, trước khi quay trở về chiến trường ông muốn ôm con, hôn con nhưng lại sợ nó giẫy lên bỏ chạy nên chỉ biết đứng đó nhìn nó với đôi mắt trìu mến xen lẫn buồn rầu.

Khi đứa con bất ngờ chạy đến ôm ông thật chặt và gọi một tiếng “ba” ông đã không kìm được xúc động. Đó là tiếng “ba” mà ông đã chờ đợi ngần ấy thời gian. Ông Sáu một tay ôm chặt con, một tay rút khăn lau nước mắt rồi hôn lên mái tóc con. Còn gì cảm động hơn giờ phút cha con nhận lại nhau lại chính là giờ phút phải chia tay. Tiếng “ba” ấy của bé Thu cất lên không chỉ gây xúc động cho người cha mà nó còn như một tiếng thét xé tan im lặng, xé lòng tất thảy mọi người.

Trở về chiến trường, nhớ lại lời hứa với bé Thu, ông Sáu đã ngày ngày làm tặng con gái một chiếc lược ngà xinh xắn. Có cây lược ông càng mong gặp lại con. Chiếc lược ngà đã trở thành vật quý giá thiêng liêng đối với ông Sáu. Nó xoa dịu nỗi đau chiến tranh, nó chứa đựng biết bao tình cảm cha con sâu sắc. Nhưng rồi ông Sáu chưa kịp trao chiếc lược cho bé Thu đã hi sinh nơi chiến trường ác liệt. Trong giờ phút cuối cùng, tình cha con bỗng bừng lên, anh đưa tay vào túi, trao lại cho người đồng chí của mình chiếc lược ngà rồi vĩnh viễn ra đi.

Một người cha mong ngóng con suốt bảy năm chiến trường ròng rã, một người cha chỉ mong một lần được con mình gọi một tiếng “ba”, một người cha dành trọn nhớ thương để dành tặng con gái một món quà vậy mà đã mãi mãi nằm xuống nơi chiến trường lạnh giá. Chiến tranh quả thật đã quá tàn khốc với tất cả mọi người. Chiến tranh đã cướp đi sinh mạng biết bao người vô tội, khiến cho bao gia đình sống trong cảnh mẹ mất con, vợ mất chồng, con mất cha. Cái giá mà chiến tranh để lại sẽ hằn sâu trong mỗi người cho đến mãi về sau.

Bằng nghệ thuật xây dựng tình huống truyện độc đáo, lối miêu tả nội tâm nhân vật sắc bén cùng với những tình cảm hết sức chân thành Nguyễn Quang Sáng đã khắc họa nên hình tượng một người cha thật đẹp. Dường như ông Sáu cũng chính là nhân vật đại diện cho biết bao thế hệ cha anh thời đó. Họ vì tình yêu quê hương đất nước mà sẵn sàng lên đường ra đi bảo vệ Tổ quốc, để lại sau lưng là gia đình thân yêu của mình để rồi anh dũng hi sinh.

Câu chuyện còn là bản cáo trạng đanh thép tố cáo tội ác mà chiến tranh đã gây ra cho biết bao người dân vô tội. Nó cũng là lời khẳng định rằng dù bom đạn chiến tranh có tàn khốc, quyết liệt đến đâu thì cũng không thể dập tắt được tình cảm cha con thiêng liêng trong trái tim mỗi người chiến sĩ. Vừa mang giá trị hiện thực, vừa toát lên chất nhân đạo ở từng câu chữ đã khiến “Chiếc lược ngà” trở thành tác phẩm xuất sắc của Nguyễn Quang Sáng đồng thời cũng làm nên tên tuổi của ông.

Truyện “Chiếc lược ngà” và hình ảnh ông Sáu đã khơi gợi trong lòng ta bao ý nghĩa về sự hi sinh và hạnh phúc ở đời do các thế hệ cha anh đã đổ xương máu làm nên. Và bài học “uống nước nhớ nguồn” càng thêm thấm thía.

Phân tích nhân vật ông Sáu trong Chiếc lược ngà - Bài mẫu 7

*

Nguyễn Quang Sáng là nhà văn Nam Bộ, các tác phẩm của ông chủ yếu viết cho con người và cuộc sống ở Nam Bộ. Trong đó "Chiếc lược ngà” là một trong những truyện ngắn tiêu biểu được viết năm 1966 tại chiến trường Nam Bộ khi cuộc kháng chiến chống Mỹ diễn ra ác liệt, điều đáng lưu ý là truyện ngắn này viết trong hoàn cảnh éo le của chiến tranh nhưng lại tập trung nói về tình người, cụ thể là tình cha con, tình cảm ấy được diễn ra một cách sâu sắc cảm động từ 2 nhân vật bé Thu và ông Sáu, nhưng có lẽ xúc động và gây ám ảnh hơi cả với người đọc là tình cảm người cha- ông Sáu với đứa con gái của mình.

Ông Sáu là người nông dân Nam Bộ giàu lòng yêu nước, lúc đi kháng chiến đứa con gái của ông chưa đầy một tuổi, mãi đến khi con gái lên tám tuổi ông mới có dịp về thăm nhà, thăm con. Nhưng bé Thu đã cự tuyệt tình cảm của ông chỉ vì trên mặt ông có vết thẹo khác với người cha trong bức hình mà em đã biết.

Đến phút chia tay ông mới đón nhận được tình cảm của con nhưng giây phút ấy quá ngắn ngủi. Vì nhiệm vụ, ông phải trở lại chiến trường, ông lên đường với lời hứa sẽ mua cho con một cây lược. Chính trong hoàn cảnh ấy tình cảm ông dành cho con thật sâu nặng và cảm động.

Trước hết tình cảm của ông Sáu dành cho con được thể hiện phần nào trong chuyến về phép thăm nhà. Đến lúc được về ” cái tình cha con nôn nao trong lòng anh” Khát khao đốt cháy lòng ông lúc này là được gặp con và mong con gọi một tiếng ba để ông được sống trong tình cha con mà bấy lâu nay ông từng mong đợi, vì thế mà khi xuống xuồng vào bến thấy một đứa bé chạc bảy đến tám tuổi, đoán biết la con không chờ xuồng cập bến, ông nhún nhảy thốt lên, xô chiếc xuồng tạt ra.

Anh bước vội vàng với những bước dài rồi dừng kêu to” Thu con” tiếng gọi của ông Sáu nghe thật xúc động. Nó chứa đựng bao tình cảm yêu thương và khát khao gặp lại con. Nhưng thật trớ trêu bé Thu lại tỏ ra ngờ vực lảng tráng. Điều đó khiến ông vô cùng đau đớn, thất vọng ”nỗi đau đớn khiến mặt anh sầm lại trong thật đáng thương và hai tay buông xuống như bị gãy”.

Đặc biệt, mấy ngày ông Sáu ở nhà, ông chẳng dám đi đâu xa, lúc nào cũng vỗ về con, ông mong được nghe một tiếng ”ba” của con bé nhưng tất cả đều không trọn vẹn. Ông Sáu càng tỏ ra gần gũi con bao nhiêu thì con bé tỏ ra lạnh nhạt bấy nhiêu. Nó nhất định không chịu gọi ông là ”ba”, không nhờ ông chắt nước nồi cơm đang sôi, những lúc như vậy ông khổ tâm hết sức, yêu con ông không lỡ mắng mà chỉ ”nhìn con khe khẽ lắc đầu vừa cười”.

Nụ cười lúc này không phải là vui mà phản ảnh sự khổ tâm của ông ” có lẽ vì khổ tâm quá đến nỗi không khóc được nên phải cười vậy thôi. Sự mất mát quá trong tình cảm của ông chính là bi kịch của chiến tranh, nó đã làm cho mặt ông đổi khác ”vết thẹo dài” nên con bé trông ông không còn giống trong hình với má nó.

Ông vẫn không nản lòng, vẫn quan tâm tới con, nhưng ông càng quyết tâm thì nó phản ứng càng dữ dội hơn, đó là trong bữa ăn ông gắp cái trứng cá to vàng để vào chén nó, tưởng nó sẽ hiểu được thành ý nhưng ngược lại nó liền ” lấy đũa soi vào chén rồi hất cái trứng cá ra, cơm văng tung tóe” lúc này ông bị con cự tuyệt hoàn toàn. Vì quá thất vọng không kịp suy nghĩ ” anh vung tay đánh vào mông nó và hét lên ”sao mày cứng đầu vậy hả”. Tình yêu thương con của ông trở nên bất lực.

Đến lúc chia tay, ông cũng muốn ôm con hôn con nhưng lại sợ nó từ chối và bỏ chạy nên ông chỉ nhìn con với đôi mắt trìu mến và buồn rầu nhưng rồi trước những biển hiện tình cảm mãnh liệt của con, ông thực sự xúc động khi con bé cất tiếng gọi ”ba”. Không kìm được xúc động và không muốn cho con nhìn thấy mình khóc, anh Sáu một tay ôm con, một tay rút khăn lau nước mắt rồi hôn lên tóc con. Giọt nước mắt của ông lúc này không vì đau khổ mà nó là ”giọt châu” rơi trong sự sung sướng hạnh phúc của một người cha yêu thương con sâu sắc.

Tình cảm yêu thương của ông Sáu được thể hiện tập trung và sâu sắc ở phần sau của truyện, khi ông Sáu trở lại chiến tranh. Sau khi chia tay với gia đình, ông Sáu vô cùng nhớ con. Những lúc ấy ông lại thấy dằn vặt day dứt vì đã đánh con trong lúc nóng giận, rồi lời dặn của con: ”Ba về, ba mua cho con một cây lược nghe Ba” đã thôi thúc ông nghĩ đến việc làm một chiếc lược ngà để tặng cho con.

Khi kiếm được khúc ngà voi ông đã vô cùng vui mừng sung sướng "mặt anh hớn hở như một đứa trẻ được quà”. Vậy đấy, khi người ta "hóa thành” trẻ con lại chính là lúc người ta đang hiện lên cá tư cách người cha cao quý của mình, rồi ông Sáu dồn hết tâm sức và tình yêu thương và chiếc lược " những lúc rỗi, anh cưa từng chiếc răng lược thận trọng, tỉ mỉ và cố gắng như một người thợ bạc”.

Trên sống lưng lược có khắc một chữ nhớ mà ông gò lưng tẩn mẩn khắc từng nét “yêu nhớ tặng Thu con của ba” chiếc lược ngà trở thành kỉ vật thiêng liêng của ông Sáu là kết tinh của tình phụ tử mộc mạc đằm thắm sâu lặng. Nó làm dịu đi lỗi ân hận và chứa đựng bao tình cảm yêu mến nhớ thương mong đợi của người cha đến với đứa con xa cách ”cây lược ấy chưa chải được mái tóc của con nhưng như gỡ rối được phần nào tâm trạng của anh”.

Những đêm nhớ con anh anh mang chiếc lược ngà ra ngắm nghía rồi mài lên tóc cho cây lược thêm bóng, thêm mượt. Lòng yêu thương con được kết tinh trong cây lược ngà ấy đã khiến cho người cha – người đã trở thành một nghệ nhân – nghệ nhân chỉ sáng tác ra một tác phẩm duy nhất của cuộc đời.

Nhưng rồi trong tình cảnh đau thương lại đến với ông Sáu, ông bị trúng đạn của giặc. Trong giờ phút cuối cùng không kịp chăng chối lại điều gì, ông đưa tay lên túi, móc cây lược cho ông Ba- người bạn chiến đấu và nhìn bạn một hồi lâu, cái nhìn như một lời chăng chối ủy thác thiêng liêng là ước nguyện giữ gìn tình phụ tử muôn đời. Ông Sáu đã hi sinh nhưng tình cha con ở ông thì không thể nào chết được, tình cha con mãi thiêng liêng bất diệt.

Nhân vật ông Sáu người cha giàu tình yêu thương con đã để lại bao mến phục với độc giả, một phần nhờ cách xây dựng nhân vật của Nguyễn Quang Sáng, trước hết nhà văn đã đặt nhân vật vào tình huống truyện bất ngờ để bộc lộ nội tâm nhân vật ngoài ra tác giả chọn ngôi kể chuyện trong vai người bạn thân thiết của ông Sáu nên không chỉ là người chứng kiến khách quan kể lại câu chuyện mà còn bày tỏ sự đồng cảm chia sẻ với nhân vật ông Sáu.

Có thể nói, chiến tranh đã lùi xa hơn ba mươi năm nhưng hình ảnh nhân vật ông Sáu và câu chuyện về ”Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng vẫn để lại bao ám ảnh day dứt trong lòng bạn đọc. Câu chuyện ấy không chỉ nói lên tình cha con thắm thiết sâu nặng của cha con ông Sáu, đặc biệt là tình cảm ông Sáu dành cho con, mà còn gợi cho người đọc nỗi đau thương mất mát của chiến tranh gây ra bao nhiêu gia đình, con người. Từ đó, ta càng có ý thức trân trọng giữ gìn tình phụ tử cao đẹp đồng thời trân trọng cuộc sống hòa bình đang được hưởng hôm nay.

Phân tích nhân vật ông Sáu trong Chiếc lược ngà - Bài mẫu 8

Xuất thân là một người lính hoạt động ở chiến trường Nam Bộ từ thời kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Quang Sáng hầu như chỉ viết về cuộc sống và con người Nam Bộ trong hai cuộc kháng chiến cũng như sau hòa bình. Chính sự gắn bó chặt chẽ ấy đã giúp ông khắc họa một cách chân thực và rõ nét hình tượng nhân vật ông Sáu - nhân vật chính trong truyện ngắn "Chiếc lược ngà". Truyện được coi là một trong những tác phẩm nổi bật nhất của Nguyễn Quang Sáng với sự thành công trong việc xây dựng hình tượng một ông Sáu giàu tình yêu thương con, yêu thương đất nước.

Ra đời năm 1966, khi tác giả đang hoạt động ở chiến trường Nam Bộ giữa những khốc liệt của cuộc kháng chiến chống Mĩ, tác phẩm được rút từ tập truyện ngắn cùng tên: Chiếc lược ngà. Truyện được kể theo ngôi thứ nhất, người kể chuyện là bác Ba- người bạn chiến đấu thân thiết của ông Sáu, nhờ đó, tác phẩm vừa đảm bảo được tính khách quan lẫn tính xác thực của sự việc được kể.

Là người kể lại câu chuyện, bác Ba có thể dễ dàng bộc lộ được cảm xúc của bản thân, chủ động xen vào những bình luận, nhận xét để từ đó, làm nổi bật tình cha con trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh. Dưới góc nhìn và lời kể của bác Ba, nhân vật ông Sáu hiện lên là một người cha trở về nhà sau tám năm xa cách bởi chiến tranh nhưng bé Thu- con gái ông Sáu lại không nhận ra ba mình, đến lúc bé nhận ra và bộc lộ tình cảm thắm thiết thì cũng là lúc hai ba con phải chia tay nhau. Trở về căn cứ, ông Sáu dồn hết tình yêu thương và niềm mong nhớ, làm cho con gái chiếc lược ngà, nhưng chưa kịp trao tận tay thì ông đã hy sinh vì bảo vệ Tổ quốc.

Chiến tranh xảy ra, đất nước lâm nguy, anh Sáu cũng như nhiều thanh niên, đàn ông khác đều xung phong lên đường đi đánh giặc. Ngày anh đi, bé Thu- con gái anh còn chưa đầy một tuổi, trong suốt khoảng thời gian gần chục năm trời ở chiến trường bom đạn khốc liệt, anh chỉ được nhìn thấy con gái qua nhưng tấm ảnh nhỏ hiếm hoi mà vợ anh đem đến mỗi lần liều mình đi thăm chồng nơi tiền tuyến.

Khi có cơ hội được nghỉ, về thăm nhà, anh Sáu đã mong chờ biết nhường nào cái thời khắc được nhìn thấy con gái mình: “cái tình người cha cứ nôn nao trong người anh”. Trong giây phút đầu gặp gỡ, anh Sáu nhận biết con chỉ bằng linh cảm, nhưng đó là linh cảm của một người làm cha đã tám năm đằng đẵng chỉ được nhìn thấy con gái qua vài tấm ảnh nhỏ, nay trở về thăm nhà với niềm mong chờ và nỗi nhớ mãnh liệt: “đoán biết là con, không thể chờ xuồng cặp lại bến, anh nhún chân nhảy thót lên”.

Khao khát, mong chờ đến nôn nóng muốn gặp con: “anh bước vội vàng với những bước dài”, “vừa bước vừa khom người đưa tay đón chờ con”. Người cha ấy chờ đợi đã bao lâu rồi thời khắc được ôm con vào lòng, xúc động, nghẹn ngào cất tiếng gọi đầy trìu mến: “Thu! Con”. Thế nhưng, trái ngược hoàn toàn với sự mong chờ của anh Sáu, đáp lại nỗi nhớ của anh lại là thái độ “ngơ ngác, lạ lùng” của bé Thu.

Anh Sáu, vẫn với “vẻ mặt xúc động ấy”, “hai tay vẫn đưa về phía trước” “giọng lặp bặp run run”: “Ba đây con!”. Câu nói được lặp lại tới hai lần đã diễn tả được trọn vẹn sự mong nhớ cùng đợi chờ, xúc động của người cha khi đứng trước đứa con gái nhỏ mình luôn nhớ nhung bấy lâu, hoàn toàn chạm đến trái tim bạn đọc.

Nhưng chính nỗi xúc động đó đã khiến vết sẹo dài trên má phải của anh Sáu đỏ ửng lên, khiến bé Thu sợ hãi: “mặt nó bỗng tái đi, rồi vụt chạy và kêu thét lên”. Nỗi buồn, sự đau đớn, thất vọng đổ ập lên anh Sáu, “anh đứng sững lại đó, nhìn theo con, nỗi đau đớn khiến mặt anh sầm lại trông thật đáng thương và hai tay buông xuống như bị gãy”.

Trở về nhà, con người ta sẽ được sống trong tình yêu thương tràn ngập, được cảm